Bệnh lý thường gặp ở các bé nuôi trong lòng ấp

Những bé sinh non, nuôi trong lồng ấp hay khỏe mạnh đều phải đối mặt với những vấn đề bệnh lý giống nhau. B m cn trang b kiến thc kiến thc v nhng bnh này đ giúp con yêu luôn khe mnh. 

Bố mẹ nào cũng mong muốn con sinh ra được khỏe mạnh, Tuy nhiên, một số bé lại không may mắn ra đời với mầm bệnh trong người. Sau đây là một số tình trạng bệnh lý ở trẻ mà phụ huynh cần biết.

Thiếu máu

Tình trạng này thường xảy ra ở trẻ sinh non. Nguyên nhân là do các bé không đủ số lượng tế bào hồng cầu để đảm nhận chức năng vận chuyển oxy trong cơ thể. Thông thường, bào thai lưu trữ sắt trong những tháng cuối thai kỳ. Sau khi sinh, chất sắt này tạo ra các tế bào hồng cầu. Do đó, nếu bé ra đời quá sớm thì sẽ không có đủ thời gian để dự trữ lượng sắt.

Việc thực hiện các xét nghiệm máu thường xuyên cũng có thể góp phần gây thiếu máu. Trẻ sơ sinh thiếu máu cần điều trị bằng cách bổ sung sắt, thuốc làm tăng sản xuất hồng cầu hoặc trong một số trường hợp cụ thể cần phải truyền máu.

Các vấn đề về hô hấp

Trẻ sinh non thường gặp vấn đề về hô hấp vì phổi không phát triển đầy đủ. Trong trường hợp này, các bé sẽ được điều trị bằng thuốc, cho thở oxy hoặc kết hợp 2 phương pháp này với nhau. Ngoài ra, trẻ sinh đủ tháng cũng có nguy cơ gặp phải các vấn đề về hô hấp do biến chứng của chuyển dạ, dị tật bẩm sinh và nhiễm trùng.

Ngưng thở ở trẻ sơ sinh

Trẻ sinh non đôi khi không thở đều đặn. Các bé có thể thở nhiều, sau đó thở ít hơn rồi ngưng thở trong khoảng 5 đến 10 giây trước khi bắt đầu hít thở bình thường trở lại. Đây được gọi là thở theo chu kỳ. Nó thường không gây hại và khi lớn hơn trẻ sẽ hết.

Các bé cũng có thể ngừng thở trong 15 đến 20 giây hoặc hơn. Sự gián đoạn trong hô hấp này gọi là ngưng thở. Nó có thể đi kèm với tình trạng nhịp tim chậm. Trẻ sơ sinh nuôi trong lòng ấp sẽ được theo dõi liên tục để theo dõi xem liệu trẻ có bị ngưng thở và nhịp tim chậm hay không.

Các cảm biến trên ngực bé sẽ gửi thông tin của nhịp thở và nhịp tim đến một máy tính gần đó. Nếu bé ngưng thở, báo động sẽ bắt đầu phát ra tiếng bíp.

Khi đó điều dưỡng sẽ kích thích để bé bắt đầu thở trở lại bằng cách vỗ nhẹ hoặc chạm vào lòng bàn chân. Bác sĩ sẽ cân nhắc cho bé uống thuốc hoặc sử dụng thiết bị hỗ trợ thở, chẳng hạn như thở máy áp lực dương liên tục (C-PAP). Bằng cách này sẽ đưa không khí vào phổi  thông qua ống nhỏ ở mũi em bé hoặc qua ống nội khí quản.

Hội chứng suy hô hấp (RDS)

Trẻ sinh non trước 34 tuần thai thường gặp phải vấn đề hô hấp nghiêm trọng này. RDS còn có tên là bệnh màng trong. Bé mắc hội chứng RDS bị thiếu một hợp chất được gọi là chất hoạt diện (surfactant) giúp giữ cho các túi phế nang nhỏ trong phổi khỏi bị xẹp.

Cách điều trị là dùng chất hoạt diện để giúp bé dễ thở hơn hoặc 1 phương pháp khác là thở áp suất dương liên tục (C-PAP). Không khí sẽ được đưa vào qua các ống nhỏ đặt trong mũi hoặc khí quản của bé.

Giống như điều trị với chất hoạt diện, C-PAP giúp giữ cho túi phế nang nhỏ khỏi bị xẹp. C-PAP giúp em bé hít thở nhưng không thay thế hô hấp hoàn toàn. Trẻ sơ sinh quá ốm có thể tạm thời được đưa vào máy thở trong khi chờ đợi phổi phục hồi.

Loạn sản phế quản phổi (BPD)

Bệnh phổi mạn tính này phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh đã được điều trị hội chứng suy hô hấp (RDS). Trẻ sơ sinh bị hội chứng nguy ngập hô hấp có phổi chưa trưởng thành nên cần sử dụng máy thở cơ học. Một số trẻ được điều trị hội chứng này có thể phát triển các triệu chứng loạn sản phế quản phổi, bao gồm có dịch trong phổi, sẹo và tổn thương phổi.

Trẻ sơ sinh bị loạn sản phế quản phổi được điều trị bằng thuốc để có thể thở dễ dàng hơn và không cần phải dùng đến máy thở. Phổi của chúng thường cải thiện trong vòng hai năm đầu đời, nhưng một số trẻ sẽ phát triển một loại bệnh phổi mạn tính giống hen suyễn. Loạn sản phế quản phổi đôi khi cũng xuất hiện ở trẻ sơ sinh đủ tháng sau khi bị viêm phổi hoặc các bệnh nhiễm trùng khác.

Tăng áp lực động mạch phổi dai dẳng (PPHN)

Trẻ sơ sinh mắc bệnh PPHN không thể hô hấp bình thường vì áp lực cao trong phổi. Khi sinh ra, các mạch máu trong phổi thường sẽ giãn ra sau vài phút khi hít không khí bên ngoài môi trường để máu có thể chảy qua. Đây là cách máu lấy oxy từ môi trường ở phổi.

Ở những bé mắc bệnh PPHN, phản ứng trên không xảy ra, dẫn đến thiếu oxy trong máu và thậm chí là tổn thương não. Các bé thường bị dị tật bẩm sinh (như các khuyết tật về tim) hoặc đã bị biến chứng khi sinh. Để giảm bớt tình trạng này, các bé cần sự trợ giúp của máy hỗ trợ thở. Chúng sẽ được thở với một loại khí oxy nitric thêm qua ống nội khí quản. Oxy nitric có thể giúp các mạch máu trong phổi giãn ra và cải thiện hô hấp.

Viêm phổi

Loại nhiễm trùng phổi này rất phổ biến ở trẻ sinh non tháng và trẻ sơ sinh. Nếu nhịp thở thay đổi, kết quả xét nghiệm máu cho thấy nồng độ oxy trong máu của bé thấp hoặc bé có cơn ngưng thở thì nhiều khả năng bé bị viêm phổi. Bác sĩ sẽ khám phổi bằng ống nghe và sau đó chụp X-quang để xem liệu có dịch dư thừa trong phổi hay không.

Trong 1 số trường hợp, bác sĩ sẽ lấy mẫu dịch trong phổi mang đi xét nghiệm để tìm ra loại vi khuẩn hoặc virus gây ra nhiễm trùng, từ đó chỉ định loại thuốc có hiệu quả nhất để điều trị bệnh. Trẻ sơ sinh bị viêm phổi thường điều trị bằng kháng sinh hoặc phải thở oxy thêm cho đến khi tình trạng nhiễm khuẩn cải thiện.

Chăm sóc sức khỏe con yêu sau khi sinh là vấn đề vô cùng quan trọng. Mong rằng những thông tin trên sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc nuôi dạy con yêu nhé!

About The Author

Tại sao uống thuốc giảm cân lại mất ngủ-1
Tại sao uống thuốc giảm cân lại mất ngủ?
Miếng dán trị đau khớp của Nhật Salonpas Hisamitsu có tốt không-1
Miếng dán trị đau khớp của Nhật Salonpas Hisamitsu có tốt không?
Mách nhỏ các loại bao cao su okamoto “HOT” nhất hiện nay
Nên uống Omega 3 trước hay sau bữa ăn-1
Nên uống Omega 3 trước hay sau bữa ăn