Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Bòng bong.
Tên khác: Thòng bong, Thạch vĩ đằng, dương vong, thạch vĩ dây, hải kim sa (Trung Quốc).
Tên khoa học: Lygodium flexuosum (L.) Sw.. Thuộc họ Bòng bong (Lygodiaceae).
Cây bòng bong trong tự nhiênĐặc điểm tự nhiên
Cây bòng bong luôn xanh, mọc leo. Thân mảnh, cứng, màu nâu nhạt, phân nhiều nhánh, quấn chằng chịt vào nhau (rối như mớ bòng bong). Lá dài, mọc đối, xẻ 2 - 3 lần, hình lông chim, lá chét mọc cách xa nhau ở gần cuống và sít nhau ở ngọn, những lá chét gần cuống hình tam giác nhọn lại chia 2 - 3 đôi lá chét nhỏ hơn và tận cùng bằng một lá chét hình mác, lá chét nhỏ mọc so le, đôi khi còn chia nữa.
Lá chét sinh sản mang túi bào tử ở mép trông như những răng cưa nhọn. Túi màu nâu dài 2 - 8mm trong chứa nhiều bào tử hình 4 mặt, màu trắng xám hay vàng nhạt.
Mùa sinh sản: Tháng 3 đến tháng 7.
Lá cây bòng bongPhân bố, thu hái, chế biến
Lygodium Sw. bao gồm một số loài dây leo, là những dạng sống tương đối đặc biệt trong nhóm Quyết thực vật (Polypodiophyta). Ở Việt Nam, chi này có 3 loài được dùng làm thuốc, trong đó có cây bòng bong.
Bòng Bong là loài phân bố phổ biến ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở Châu Á, bòng bong phân bố ở Trung Quốc, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Vân Nam. Châu Á nhiệt đới như Tiểu lục địa Ấn Độ (Ấn Độ, Sri Lanka), Đông Dương (Indonesia, Thái Lan), Malaysia (Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea, Philippines). Tại Úc, bòng bong có ở Lãnh thổ phía Bắc, Queensland và Tây Úc.
Ở Việt Nam, bòng bong có thể gặp ở hầu hết các tỉnh vùng trung du, miền núi, đôi khi thấy cả ở vùng đồng bằng. Cây ưa sáng, thường mọc tập trung trên các đồi cây bụi, trảng sau nương rẫy và ven rừng. Bòng bong sinh sản bằng các bào tử. Phần thân rễ nằm sát mặt đất có khả năng đẻ nhánh khoẻ. Cây sinh trưởng, phát triển nhanh, ảnh hưởng mạnh tới các cây trồng trên nương rẫy.
Phân bố của cây bòng bong trên thế giớiBộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được của bòng bong là dây mang lá, thu hái quanh năm, thái nhỏ dùng tươi hoặc phơi khô.